Thêm một lần, lòng tự trọng trỗi dậy, An lại trốn khỏi nhà chủ. Lừa được mấy con chó hung dữ bằng cách trèo qua tường, rồi hòa vào gió lạnh giữa đêm đông…
An dừng lại đứng thở…
Nhìn đồng hồ, thế là cô đã chạy nửa tiếng đồng hồ. Cô nhìn lại đằng sau, cái thị trấn nhỏ với những ánh đèn giờ chỉ như những con đom đóm sau làn mưa mù. Như vậy là đã có thể yên tâm vì thời gian cũng như khoảng cách sẽ là bức cản không để nhà chủ tìm được cô. Cô bước tiếp trên những thửa ruộng khô chỏng trơ gốc rạ. Thấm mệt, cô muốn tìm một chỗ nào đó để có thể nằm ngủ một chút nhưng cái ý chí trong cô thôi thúc cô phải bước đi…
Lúc bắt đầu cuộc chạy trốn, An phải đi vào những cánh đồng dể tránh sự bắt gặp của cảnh sát nhưng bây giờ thì phải nhanh chóng tìm được đường quốc lộ thì mới có thể đến ga tàu hỏa nào đó để đi đến Đài Bắc. An nhìn quanh để xác định phương hướng. Xa xa, phía tay phải có một khoảng không sáng hơn màn đêm, cô chậm rãi tiến tới. Tới gần, cô sững người: Cái khoảng không sáng hơn màn đêm chính là một nghĩa địa với những ngôi mộ vô hồn, lạnh lẽo. An không còn biết sợ, cô đi vòng qua những ngôi mộ như để tìm một ngôi nhà cho cô có thể chợp mắt nghỉ ngơi. Cô đi mãi…Cái nghĩa trang rộng lớn không có chỗ cho cô nghỉ, bởi có lẽ nơi này chỉ là nơi nghỉ của những người đang ở chốn vĩnh hằng!
Mệt mỏi, cô ngồi xuống bên cạnh một ngôi mộ xếp đầy hoa trắng và còn nồng mùi đất mới. Đây có lẽ là một ngôi mộ của người chết trẻ. An nghĩ vậy. Cô quỳ xuống bên ngôi mộ, thầm thì với người quá cố: “ Tôi là người Việt Nam tới Đài Loan làm việc. Nhà chủ đối xử với tôi cay nghiệt nên tôi phải trốn đi tìm việc, xin Người thương cảm phù hộ cho tôi…” Không hiểu vì quá mệt nên An hoa mắt hay vì người dưới mộ động lòng thương cảm trước hoàn cảnh của cô mà trong tích tắc ấy, An như nhìn thấy nén hương đang cháy dở chợt bùng lên rồi vụt biến đi trong màn đêm tĩnh mịch.
Như có thêm sức mạnh, An đứng dậy, bước đi quả quyết… Đồng hồ chỉ 1 giờ sáng, An đã tìm được đường quốc lộ. Không gian vắng lặng, thỉnh thoảng lại rộn lên những bản nhạc của những chú côn trùng còn mải mê kiếm ăn, những bản nhạc đồng quê đó như đưa An trở về đất mẹ…
An sinh ra trong một gia đình đông anh chị em ở vùng đất Hà Nam, cô là út nên có phần được nuông chiều hơn các anh, chị. Gia đình cô không làm ruộng mà gieo trồng và bán cây cảnh, tuổi thơ của cô êm ả trong vòng tay bố mẹ và anh, chị. Một ngày kia, qua trang thư nối vòng tay lớn với các chiến sỹ ở đảo Trường Sa, cô đã quen anh. Tình yêu của hai người lãng mạn và đẹp đẽ như trang tiểu thuyết, yêu mà chưa hề biết mặt, chưa nghe thấy giọng của nhau. Sự tin tưởng vào tình yêu thắm nồng qua những bức thư tình vội vã. An đã đợi chờ và sau hai năm, anh xuất ngũ trở về, hạnh phúc ngọt ngào đã rộng mở với hai người…
Đang đi, An chợt thấy hẫng người. Cô lảo đảo ngồi xuống. Cô đã đi, đã chạy suốt ba tiếng đồng hồ, bàn chân phồng rộp và bụng đói cồn cào. An thấy mình không còn đủ sức để đứng dậy được nữa. Hôm nay, mới là mồng sáu Tết. Ở Việt Nam lúc này, nhiều nhà vẫn còn treo lủng lẳng những chiếc bánh chưng, và những bữa cơm gia đình thơm nức mùi nem, chả và những cảnh hoa đào vẫn còn rực hồng hơi ấm của xuân mới. Còn cô…Tết của Đài Loan trùng và giống với Tết của người Việt, vậy mà đã hai mùa xuân đi qua, cô làm gì có Tết! Trái tim An thổn thức, cô co người, rét run trong gió lạnh. Gió Đông Bắc vẫn thồi phần phật như chiếc chổi quét sạch con đường. Gió ào ào như nuốt chửng và đẩy cô đi. Cô đơn đến tuyệt vọng, cô lại gượng dậy đi tiếp. Nhìn con đường xa thẳm không một bóng người, không một chiếc xe, An bàng hoàng, biết đi về hướng nào bây giờ? Cô bước đi vô hồn, đi mà không biết mình sẽ đi đâu. Trong đầu cô giờ chỉ hiện lên hình ảnh người chồng và đứa con trai mới hai tuổi đang khóc đòi mẹ…
Đám rước dâu từ vùng đất Hà Nam tới miền đất Phú Xuyên ồn ào, náo nhiệt. Những tiếc lách cách chạm ly, những lời chúc tụng dần vắng, nhường lại sự ngọt ngào cho đôi vợ chồng trẻ. Sau đám cưới, mọi tếu táo, sống động thời con gái của An lùi dần bởi sự lấn chiếm của lo toan với những bộn bề cuộc sống. An không biết làm ruộng. Những thửa ruộng ngập đến đầu gối cùng với vác lúa trên vai như muốn nhấn con người ta xuống bùn. An thực sự sợ hãi. Cô lại trở về mảnh đất Hà Nam cùng với các anh chị gieo trồng và bán cây cảnh. Nhưng lẽ nào, vợ chồng lại cứ sống cảnh đôi người đôi nơi đợi con đò vắng khách hay sao? Và rồi nhờ sự giúp đỡ của anh em, hai vợ chồng An mua được chiếc xe công nông. Chồng lái, vợ đi theo bốc gạch, xúc cát. Có lúc đi qua đường trơn, xe công nông trượt đổ, An ngã nhào xuống ruộng với cả đống gạch đè trên người. Vậy mà ông trời không hại An, và đứa con trong bụng vẫn cứ lớn dần lên để rồi ra đời trong
những tháng ngày gieo neo, chật vật mà đầy ắp hạnh phúc ấy…
Tiếng khóc, tiếng cười của con làm mọi mệt nhọc trong An tan biến. Nhưng những trong lo lắng trong cô cũng lớn dần. Cứ mãi thế này thì bao giờ vợ chồng mới có một căn nhà là của riêng mình? Tương lai của con trẻ sẽ ra sao? Vậy là vợ chồng ngồi lại bàn bạc với nhau… Một buổi chiều mưa xối xả sau đó vài tháng, An bước lên máy bay sang Đài Loan, bỏ lại đằng sau sự nhớ thương day dứt của người chồng và tiếng khóc của bé Bình chưa đầy hai tuổi. Tiếng động cơ ầm ầm không át nổi tiếng khóc đòi mẹ của đứa trẻ. An áp mặt vào cửa sổ máy bay để cố ghi nhận hình ảnh của đứa con tội nghiệp.
Nước mưa ngoài cửa sổ và nước mắt của cô làm tấm kính trở nên mờ đục. An gục đầu vào cánh tay, lặng lẽ khóc… Mải nghĩ, An không hề biết có chiếc xe ô tô dừng lại đằng sau. Chỉ khi nghe thấy tiếng hỏi, cô mới bừng tỉnh thoát khỏi dòng suy nghĩ. Cô gái! Cô đi đâu mà đêm hôm khuya khoắt một mình trên đường thế này?
Không trả lời, An cảnh giác lùi vào bên đường và bước tiếp. Tưởng cô không nghe thấy, người đàn ông cất tiếng hỏi to hơn: Cô gái! Cô đi đâu? Trong An chợt lóe lên suy nghĩ liều lĩnh. Cô trả lời bằng vốn tiếng
Trung không mấy chuẩn xác: Tôi đi tìm bạn, bị lạc, đang trên đường tìm về ga Đài Trung. Ông có thể cho tôi đi nhờ tới đó được không? Người đàn ông nhìn cô nghi hoặc rồi mở cửa xe nói gì đó với người bên trong, một thanh niên khoảng gần 30 tuổi. Anh ta nhìn An rồi nói với tài xế:
Anh trai! Giúp cô ấy chút đi!
Họ mở cửa cho An vào xe, chiếc xe lại lao vút trên đường cao tốc.
Trời đã sáng dần…
Ngồi trên xe, An thu mình như con nhím đang phòng thủ. Hai người đàn ông cũng im lặng, xe chạy khá lâu, họ mới cất tiếng hỏi
An:
Cô gái! Cô là người nước nào?
Tôi là người Việt Nam An trả lời dè dặt – Họ hỏi An vài câu nữa nhưng An lắc đầu ra hiệu không hiểu. Thấy vậy, hai người đàn ông cũng không hỏi thêm câu nào nữa…
Đến ga Đài Trung, xe dừng lại. Hai người đàn ông tốt bụng đưa cô vào cuẳ ga và cho cô một ngàn tiền Đài. Cô nói lời cảm ơn và lắc đầu không nhận tiền. Họ nhìn cô ái ngại xen lẫn thương xót rồi vội vã lên xe… Con tàu vút nhanh, lướt qua những ngọn núi, những cánh đồng để
đưa An về Đài Bắc. Thấm mệt sau một đêm thức trắng, An ngả người vào thành ghế bâng khuâng. Cô đã đi những bước đi chập chững đầu tiên vào cuộc đời lang bạt nơi xứ người. Bao sóng gió đang chờ An phía trước, chông gai rải đầy trên con đường cô phải đi qua. Nhưng cô chỉ có thể dẵm lên mà bước chứ không thể quay đầu lại. Đằng sau cô là vực thẳm, cô không muốn mình sẽ bị ngã xuống vực. An lẩm nhẩm câu hát: “ Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên!” Cô nhẹ nhàng ngó qua cửa sổ để tận hưởng không khí trong lành của buổi bình minh. Cô chợt cảm thấy thoải mái với sự tự do đời thường…
Hai năm qua, kể từ ngày đặt chân đến Đài Loan, tự do đối với cô thật xa vời và nụ cười trên môi, cô cũng mất dần như bông hoa tàn úa… Sân bay quốc tế Đào Viên ào ào từng làn gió đông lạnh giá, có khoảng hơn 40 người mang màu da khác nhau, quốc tịch khác nhau, đôi mắt ai cũng thâm quầng, mệt mỏi, xen lẫn ngơ ngác. Tất cả kẻ đứng người ngồi xếp thành hàng dài. Đó là những người lao động vừa nhập cảnh tới Đài Loan làm việc. Inđô, Việt Nam, Philippin và Thái Lan, mỗi người cầm một túi hồ sơ có ghi họ tên của chính mình. Vài người đàn ông lạnh lùng đi tới đi lui, ngó nghiêng vào những chữ ghi trên túi hồ sơ rồi từng người, từng người được gọi lên xe ô tô đi về công ty môi giới. Để rồi sáng hôm sau, khi khám sức khỏe xong xuôi, cái đám đông “nô lệ” ấy lại tách dần ra, từng người được những người được gọi là ông chủ, bà chủ đến đón và đưa tới chỗ làm…
Chỗ An làm là một cửa hiệu bán thuốc Bắc ở một khu phố nhỏ ở Đài Nam. Bà chủ đẹp người, hàng hày tặng cho An hàng ngàn câu chửi bới. Bà ta bảo An: “ Mày không bằng con chó của nhà tao đâu!”. Mà đúng là thế thật! Chó của bà ta được ăn ngon, chứ An chỉ toàn ăn đồ thừa mà thôi. Ngày làm việc luôn tay, đêm phải hầu thêm bà cụ gần 80 tuổi. Từ một cô gái xinh đẹp, tươi vui, hay cười, cô trở nên trầm lặng, thân hình ngày càng trở nên tiều tụy vì ăn uống thiếu thốn. Cô luôn tự nhủ phải nhẫn nại mới đạt được thành công. Những trang thư bay về Việt Nam vẫn chứa nhớ thương và lạc quan. Cô không muốn cha mẹ và chồng cô phải vì cô mà lo nghĩ. Cô hiểu rằng để vợ phải ra đi bôn ba xứ người, chồng cô buồn và day dứt lắm. Cái dũng cảm và sống hết mình vì người khác của một người lính vẫn luôn chế ngự trong anh. Nhưng sự thật thà, chất phác ngàn đời của anh lính cụ Hồ khiến anh không thể chen chân vào cơ chế thị trường đang trong thời kỳ đổi mới. An không trách chồng mà càng yêu anh nhiều hơn. Màu xanh của áo lính và những cánh thư hồng gửi về từ đảo trường xa năm nào vẫn bên cô và có sức mạnh xoa dịu những cơ cực mà cô phải nếm trải nơi xứ người. Mọi vất vả hàng ngày An gánh chịu đều có thể qua đi nếu như không có những cái tát của bà chủ vào ngày đầu xuân. Những lời kêu gọi giúp đỡ của An tới các nơi có thẩm quyền chẳng được phúc đáp. Lòng tự trọng và sự kiên định vốn có của người phụ nữ Việt bùng lên. An đã rời khỏi nhà chủ khi cánh hoa đào đầu xuân vừa chớm nở…
Cô mua một chiếc di động cũ, liên lạc với bạn bè và đã tìm đến nhà chủ thứ hai vào ngay ngày hôm sau. Nhà này giàu có, đệm ga sang trọng.
Công việc chính của An là chăm sóc mấy..chú chó được cưng chiều trong những chiếc lồng đẹp đẽ. Bà chủ cho An ngủ trên một gác xép nhỏ, đưa cho cô mấy tấm tải xi măng, ra hiên trại ra mà ngủ, rồi bà vội vàng đi xuống tầng. Đợi mãi không thấy bà ta phát chăn, An dò dẫm đi xuống tầng một.
Chị không ngủ, còn xuống đây làm gì? – Bà chủ hỏi không giấu nổi vẻ khó chịu An ngại ngùng, lễ phép đáp: Thưa bà, trời rét quá! Bà cho tôi mượn một chiếc chăn được không?
Bà chủ không nói gì, đi vào phòng trong. Lát sau quay ra, đưa cho An một chiếc chiếu đã rách lỗ chỗ. Chị đắp tạm… An đón lấy chiếc chiếu, bỗng thấy mặt mình nóng bừng trước bao con mắt mỉa mai của những người đang ồn ào quanh bàn cờ bạc. Đắp tạm? Chắc là đắp tạm đêm nay?!…An đã qua ba đêm trằn trọc, co ro vì lạnh trong chiếc chiếu rách, gắng chờ tấm chăn từ bà chủ… Thêm một lần, lòng tự trọng trỗi dậy, An lại trốn khỏi nhà chủ. Lừa được mấy con chó hung dữ bằng cách trèo qua tường, rồi hòa vào gió lạnh giữa đêm đông…
An nhắm mắt thiu thiu ngủ, con tàu vẫn bần bật lao nhanh, hú vang những hồi còi rộn rã…
An xoay mình để ngủ tiếp, cô kéo chiếc chăn như để củng cố hơi ấm cho chính mình. Ngòai sân, gió lạnh luồn qua các sườn núi vi vu, gió len lỏi giữa các ngọn cây, khiến những chiếc lá vàng run rẩy, tạo nên những âm thanh xào xạc. Gió lách qua khe cửa, đến bên giường An như lay gọi. An bâng khuâng, tim cô cũng cuốn từng hồi như gió thổi. Cô thấy thèm một cảm giác thân quen, một hơi thở nồng ấm, thèm được ngả vào bờ vai rịn mồ hôi sau một ngày làm vất vả của chồng. Cô nhớ anh và con da diết!
Thế là đã bốn năm trôi qua kể từ cái đêm đông giá lạnh trên đường cao tốc, và cũng đã sáu năm trôi qua ở xứ người. Sáu mùa lá rụng, đẩy tuổi xuân của cô vào những đêm đông lạnh lẽo, cô đơn…
Ngày ấy, khi về đến Đài Bắc, cô đã nhờ bạn tìm môi giới để rồi cô đã đến đây – nơi rừng núi heo hút. Nhà chủ này đối xử với cô chân tình, ấm áp, thân thiết như người một nhà. Đó là điều đã giúp cô vơi đi phần nào buồn khổ. Từ một cô gái ở vùng đất chiêm trũng, bây giờ cô đã biết ngược núi, leo rừng khá thành thạo. Từ một người chỉ biết lắc đầu khi nghe người ta nói tiếng Trung, giờ cô đã viết, đọc, dịch thành thạo. Tất cả mọi cơ cực và bất công từng nếm trải ở xứ người đã tạo ra trong An một ý chí bền bỉ, mộttinh thần sắt đá, dẻo dai, biết tự mình học hỏi để vượt lên số phận.
Lẽ ra cô đã về từ ngày xuân năm trước, nhưng một tai nạn bất ngờ ập xuống gia đình An. Luôn day dứt vì phải để vợ vất vả nơi xa, chồng cô đã cố gắng học nghề lái xe với hi vọng sẽ có một công việc ổn định làm chỗ dựa cho vợ con. Nhưng mới ra nghề chưa được bao lâu thì anh gây ra tai nạn. Vụ tai nạn làm số tiền An tích cóp suốt mấy năm đã theo gió bay theo nạn nhân xấu số. Chồng ngồi tù, con phải gửi ông bà. An lại cố gắng nuốt nước mắt vào trong để ở lại thêm năm nữa…
Trằn trọc hồi lâu, An trở dậy, đến bên cửa sổ ngắm những ngôi sao cuối cùng của đêm khuya. Làn gió lạnh của buổi sớm như bàn tay âu yếm vuốt nhẹ lên má cô. Gió nhẹ nhàng như mang theo lời thì thầm của bé Bình: “ Mẹ ơi! Con không tưởng tượng ra mẹ của con là người thế nào?…Mẹ ơi! Có lần con nằm mơ mẹ về, mẹ giống cô Tấm ở trong truyện cổ tích mà cô giáo cho con xem..” Cổ họng An nghẹn đắng. Một quyết định chợt bùng lên mãnh liệt…
Phải về thôi! Hơn bao giờ hết, lúc này đây, chồng và con cô đang khao khát một mái ấm gia đình. Phải! Cô phải về để giữ lại những gì là của riêng cô. Phải về thôi!
Chiếc máy bay từ từ hạ cánh. An kéo vội chiếc valy. Lòng cô bồi hồi và trở nên ấm áp lạ thường. Cô cố nhìn vào đám đông đi đón ở ngoài cửa sân bay đang giơ tay vẫy vẫy, An cảm động, nước mắt tuôn trào…
Đâu là bàn tay bé xíu của đứa con trai bé bỏng thương yêu? Cô ào nhanh ra cửa, gọi tên con để được ôm lấy con vào lòng… Lời tác giả: Có một độc giả thân thiết của Báo Bốn Phương tên là Lâm Khánh An với những trang viết bằng chữ cứng thường được đăng trên báo. Đó là nhân vật chính của truyện ngắn “Lạnh lẽo đêm đông”. Chúng ta hãy dành cho những người lao động bỏ trốn một sự cảm thông. Bởi họ không có lỗi. Lỗi lầm nảy sinh từ cái nghèo, từ một số công ty môi giới vô trách nhiệm. Lâm Khánh An và những người như cô mới thực sự là dũng cảm!
Kim Phượng 0920773170
Báo Bốn Phương (Đài Loan)
